Công nghệ thi công lắp ghép

  • DỰ NGUYỄN
  • Tháng 10 2018

Công nghệ thi công lắp ghép là công nghệ lắp giáp tại hiện trường các cấu kiện đã được chế tạo sẵn ở nhà máy thành các kết cấu chịu lực của một công trình, sau khi đã được vận chuyển đến công trường, bằng các nối nối thi công tại công trường.

Công nghệ thi công lắp ghép là công nghệ lắp giáp tại hiện trường các cấu kiện đã được chế tạo sẵn ở nhà máy thành các kết cấu chịu lực của một công trình, sau khi đã được vận chuyển đến công trường, bằng các nối nối thi công tại công trường. Các cấu kiện bằng kim loại thì thường được giáp mối bằng mối liên kết hàn hay liên kết cơ khí khác. Các cấu kiện bằng bê tông hoặc bê tông cốt thép đúc sẵn thì liên kết bằng mối liên kết bê tông hay bê tông cốt thép có chất lượng tương đương với việc thi công bê tông toàn khối.

Các cấu kiện đúc sẵn có thể là dầm, cột, cầu thang, bản sàn (pa nen sàn), tấm tường (pa nen tường), dàn vì kèo, móng cốc, đoạn đường ống (tunnel), đốt cọc,...

Đối với công nghệ lắp ghép cấu kiện bê tông, thay vì đổ bêtông toàn khối, người ta dùng công nghệ lắp ghép trong xây dựng vì một số ưu điểm sau:

Ưu điểm của công nghệ lắp ghép
Thời gian thi công nhanh chóng, vì không cần mất thời gian đóng cốp pha (khuôn đúc bê tông) và chờ bê tông đông cứng phần dưới rồi mới làm phần trên.
Chất lượng cấu kiện được quản lý trong nhà máy bởi bộ phần kiểm tra chất lượng mới cho xuất xưởng, nên có thể yên tâm về chất lượng các cấu kiện.
Không tạo nhiều rác thải trên công trường.
Ít tốn nhân công.
Giá thành hạ càng hạ nếu sản xuất càng nhiều cấu kiện giống nhau.

TIN LIÊN QUAN

In 3D trong xây dựng

  • DỰ NGUYỄN

In 3D Xây dựng (c3Dp) hoặc In Xây dựng 3D (3DCP) đề cập đến các công nghệ khác nhau sử dụng in 3D làm phương pháp cốt lõi để chế tạo các tòa nhà hoặc các cấu kiện xây dựng. Các thuật ngữ thay thế cũng được sử dụng, chẳng hạn như Sản xuất đắp dần quy mô lớn (LSAM)

Xây dựng tự do (FC), cũng liên quan đến các nhóm phụ như 'Bê tông 3D', được sử dụng để chỉ các công nghệ ép đùn bê tông.

Tòa nhà theo yêu cầu (BOD) của 3DPrinthuset, một tòa nhà khách sạn văn phòng nhỏ, với tường in 3D và cấu trúc móng. Tòa nhà đầu tiên thuộc dạng này ở châu Âu.
Có nhiều phương pháp in 3D được sử dụng ở quy mô xây dựng, bao gồm các phương pháp chính sau: đùn (bê tông /xi măng, sáp, bọt, polyme), kết dính bột (liên kết polymer, liên kết phản ứng, thiêu kết) và hàn đắp. In 3D ở quy mô xây dựng sẽ có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực tư nhân, thương mại, công nghiệp và công cộng. Lợi thế tiềm năng của các công nghệ này bao gồm xây dựng nhanh hơn, chi phí lao động thấp hơn, tăng độ phức tạp và / hoặc độ chính xác, tích hợp nhiều hơn các chức năng và ít chất thải sinh ra.

Một số phương pháp tiếp cận khác nhau đã được chứng minh cho đến nay bao gồm việc chế tạo tại chỗ và ngoài công trường các tòa nhà và các cấu kiện xây dựng, sử dụng robot công nghiệp, hệ thốngcầu trục và các phương tiện tự hành. Trình diễn công nghệ in 3D xây dựng cho đến nay đã bao gồm chế tạo nhà ở, cấu kiện xây dựng (tấm ốp và tấm kết cấu và cột), cầu và cơ sở hạ tầng dân dụng[1], rạn san hô nhân tạo, theo dõi và điêu khắc.

Công nghệ này đã gia tăng đáng kể tính phổ biến trong những năm gần đây khi nhiều công ty mới nổi lên trên thị trường, bao gồm một số công ty được hỗ trợ bởi những ông lớn trong ngành xây dựng. Điều này dẫn đến một số cột mốc quan trọng, chẳng hạn như tòa nhà in 3D đầu tiên (Winsun), cây cầu in 3D đầu tiên (D-Shape), chi tiết in 3D đầu tiên trong một tòa nhà công cộng (XtreeE), tòa nhà in 3D đầu tiên ở châu Âu và CIS (Specavia), tòa nhà in 3D đầu tiên ở Châu Âu được chính quyền (3DPrinthuset) chấp thuận hoàn toàn và rất nhiều công trình khác.

Sức bền vật liệu

  • DỰ NGUYỄN

Độ bền (ký hiệu: δ) là đặc tính cơ bản của vật liệu. Người ta định nghĩa độ bền như là khả năng chịu đựng không bị nứt, gãy, phá hủy dưới tác động của ngoại lực lên vật thể. Độ bền có thể hiểu rộng hơn

Độ bền (ký hiệu: δ) là đặc tính cơ bản của vật liệu. Người ta định nghĩa độ bền như là khả năng chịu đựng không bị nứt, gãy, phá hủy dưới tác động của ngoại lực lên vật thể. Độ bền có thể hiểu rộng hơn, vì vậy người ta chia ra thành các đặc tính về độ bên theo cách tác động ngoại lực khác nhau: độ kéo, độ bền nén, độ bền cắt, độ bền uốn, độ bền mỏi, độ bền va đập, giới hạn chảy...

Định nghĩa

Ứng suất đơn được diễn giải theo công thức:

{\displaystyle \sigma ={\frac {F}{A}},}
Trong đó F là lực(N) tác động lên vùng A (cm2). Vùng bị tác động có thể xảy ra các trường hợp: biến dạng và không biến dạng tuỳ thuộc vào ứng suất thiết kế hoặc ứng suất thực áp đặt.

Các khái niệm ứng suất

Ứng suất nén là trạng thái ứng suất khi vật liệu bị tác động ép chặt. Trường hợp đơn giản của sự ép là lực ép đơn gây ra bởi phản lực tác động, lực đẩy. Sức bền nén của vật liệu luôn cao hơn sức bền kéo của vật liệu đó, tuy nhiên hình thể lại quan trọng để phân tích khi ứng suất nén đạt đến giới hạn cong vênh.
Ứng suất kéo là trạng thái ứng suất khi vật liệu chịu tác động kéo căng hướng trục. Bất kỳ một vật liệu nào thuộc loại đàn hồi thì phần lớn chịu được ứng suất kéo trung bình, ngược lại là các vật liệu chịu đựng lực kéo kém như, gốm, hợp kim dòn. Trong ngành chế tạo thép, một số loại thép có khả năng chịu được ứng suất kéo rất lớn, như các sợi dây cáp thép trong các thiết bị nâng hạ.
Ứng suất cắt là kết quả khi lực tác động lên sản phẩm mà gây ra biến dạng trượt của vật liệu trên một mặt phẳng song song với hướng tác động của lực áp vào. Ví dụ như người ta dùng kéo để cắt một tấm tôn mỏng.

Các khái niệm độ bền

Độ bền uốn là ứng suất thấp nhất làm biến dạng vĩnh viễn cho một vật liệu xem xét.
Độ bền nén là giới hạn ứng suất nén làm vật liệu bị biến dạng hay phá huỷ.
Độ bền kéo là giới hạn lớn nhất của ứng suất kéo làm đứt vật liệu xem xét.
Độ bền mỏi là số đo độ bền của vật liệu hoặc thành phần chịu tải trọng có chu kỳ, và chúng thường khó xác định hơn sơ với các độ bền có tải trọng tĩnh. Độ bền mỏi được xem như là cường độ ứng suất hoặc phạm vi ứng suất, thông thường với ứng suất trung bình 'số không' thì phù hợp với số chu kỳ phá huỷ vật liệu.
Độ bền va đập là khả năng chịu đựng của vật liệu khi chịu các tải trọng va đập đột ngột.
Các khái niệm sức căng
Sự méo mó(biến dạng) của vật liệu là sự thay đổi hình dạng khi chịu ứng suất.
Biến dạng nén hoặc kéo là khái niệm toán học diễn giải xu hướng biến dạng thay đổi của vật liệu.
Sự võng là miêu tả sự cong oằn của kết cấu dưới tải trọng.