Tài chính quốc tế

  • DỰ NGUYỄN
  • Tháng 10 2018

Tài chính quốc tế là hệ thống những quan hệ kinh tế nảy sinh giữa nhà nước hoặc các tổ chức của nhà nước với các nhà nước khác, các tổ chức của các nhà nước khác, các công dân nước ngoài và với các tổ chức quốc tế, gắn liền với các dòng lưu chuyển hàng hóa và tiền vốn trên thế giới theo những nguyên tắc nhất định.

Tài chính quốc tế là một bộ phận của kinh tế quốc tế. Tài chính quốc tế chuyên nghiên cứu về tỷ giá hối đoái, đầu tư quốc tế, các thể chế tài chính quốc tế

Khái niệm tài chính quốc tế

Sự xuất hiện và tồn tại các quan hệ tài chính quốc tế là một tất yếu của phạm trù tài chính, xuất phát từ các cơ sở khách quan sau:

  • Về kinh tế: giữ vai trò quyết định cho sự phát sinh và phát triển của các quan hệ tài chính quốc tế;
  • Về chính trị: tác động trực tiếp đến hình thức và mức độ của mối quan hệ tài chính quốc tế;
  • Về góc độ kinh tế vĩ mô:
    • Tỷ giá hối đoái:
    • Cán cân thanh toán quốc tế;
    • Hệ thống tiền tệ, tài chính quốc tế;
    • Nợ nước ngoài và quản lý nợ nước ngoài;
  • Về góc độ thị trường (kinh tế vi mô):
    • Đánh giá và quản trị rủi ro quốc tế;
    • Các thị trường tài chính quốc tế;
    • Đầu tư quốc tế trực tiếp và gián tiếp.

Đặc điểm của tài chính quốc tế

  • Rủi ro hối đoái và rủi ro chính trị;
  • Hoạt động phân phối của tài chính quốc tế gắn liền với việc thực hiện mục tiêu kinh tế, chính trị của nhà nước;
  • Tài chính quốc tế không chỉ chịu sự chi phối của các yếu tố về kinh tế mà còn chịu sự chi phối bởi các yếu tố chính trị của mỗi quốc gia;
  • Sự thiếu hoàn hảo của thị trường;
  • Môi trường quốc tế mở ra nhiều cơ hội.


Vai trò của tài chính quốc tế

  • Tạo điều kiện hội nhập vào nền kinh tế thế giới;
  • Mở ra cơ hội phát triển kinh tế - xã hội;
  • Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính.

Hình thức quan hệ tài chính quốc tế của Việt Nam

Tín dụng quốc tế

* Khái niệm của tín dụng quốc tế

Tín dụng quốc tế là tổng thể các quan hệ kinh tế phát sinh giữa các nhà nước, các cơ quan nhà nước với nhau, hoặc với các tổ chức tài chính quốc tế, cá nhân người nước ngoài và giữa các doanh nghiệp của các nước khác nhau khi cho vay và trả nợ tiền vay theo những nguyên tắc tín dụng. Tín dụng quốc tế ra đời là một yêu cầu khách quan trên cơ sở quan hệ ngoại thương và thanh toán quốc tế; không chỉ là yêu cầu khách quan về mặt kinh tế mà còn là yêu cầu khách quan để phát triển các mối quan hệ về chính trị, ngoại giao và các quan hệ khác giữa các nước.

Tín dụng thương mại

* Khái niệm tín dụng thương mại

Tín dụng thương mại là các khoản vay mượn do các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của hai nước cung cấp cho nhau do mua bán hàng của nhau. Hình thức tín dụng này, sự vận động của tín dụng gắn liền với sự vận động của hàng hóa, tức là quá trình vay mượn xảy ra song song với quá trình mua bán.

* Các hình thức của tín dụng thương mại

  • Tín dụng cấp cho người nhập khẩu;
  • Tín dụng cấp cho người xuất khẩu.

* Tín dụng ngân hàng
Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là những khoản vay mượn do các ngân hàng thương mại cung cấp để tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động đầu tư cơ bản nước ngoài.

Các hình thức của tín dụng ngân hàng

  • Tín dụng ứng trước;
  • Tín dụng chấp nhận;
  • Tín dụng tài chính.

* Tín dụng chính phủ

Khái niệm tín dụng chính phủ

Tín dụng chính phủ là quan hệ vay mượn giữa hai chính phủ của hai quốc gia.

Các hình thức tín dụng chính phủ

  • Tín dụng ngắn hạn;
  • Tín dụng trung hạn;
  • Tín dụng dài hạn.

Tín dụng tư nhân và tổ chức phi chính phủ

Loại hình tín dụng này được thực hiện do một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức phi chính phủ cấp tín dụng cho một chính phủ của một quốc gia khác. Nguồn vốn vay này có quy mô nhỏ, thường được sử dụng vào các chương trình phúc lợi và an ninh xã hội (vệ sinh môi trường, đào tạo nghề, cấp thoát nước, chăm lo sức khỏe,...).

Tín dụng của tổ chức tài chính quốc tế
Đây là loại tín dụng nhà nước đa phương do các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tệ, Ngân hàng Thế giới và các ngân hàng khu vực thực hiện đối với các nước thành viên dựa trên nguồn vốn do các nước thành viên góp và huy động từ thị trường.

Các hình thức của tín dụng bao gồm:

  • Tín dụng hỗ trợ điều chỉnh cán cân thanh toán;
  • Tín dụng điều chỉnh cơ cấu ngành;
  • Tín dụng phát triển kinh tế - xã hội.


Quản lý nợ nước ngoài

Quản lý nợ nước ngoài nhằm mục đích hạn chế và ngăn ngừa rủi ro. Quản lý nợ nước ngoài cần chú ý:

Thực hiện tốt chu trình vay nợ nước ngoài;
Xác lập các chỉ tiêu cơ bản về khả năng hấp thụ vốn vay và khả năng trả nợ.
Hỗ trợ phát triển chính thức ODA
Bài chi tiết: Hỗ trợ phát triển chính thức
Hỗ trợ phát triển chính thức ODA - Official Development Asistant - là việc các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế và chính phủ các nước phát triển viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi đối với các nước đang phát triển.

Đầu tư quốc tế trực tiếp

Bài chi tiết: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư quốc tế trực tiếp hay còn gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI - Forein Direct Investment - là một hình thức di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn.

 

TIN LIÊN QUAN

Trung gian tài chính

  • DỰ NGUYỄN

Một trung gian tài chính là một tổ chức hoặc cá nhân đứng giữa hai hay nhiều bên tham gia vào một bối cảnh tài chính. Thông thường, có một bên là bên cung cấp sản phẩm/dịch vụ và một bên là khách hàng hay người tiêu dùng.

Tại Việt Nam cũng như phổ biến trên nhiều nước trên thế giới, trung gian tài chính thường là một tổ chức trung gian cho kênh luân chuyển vốn giữa người cho vay và người đi vay. Tức là, người cho vay chuyển tiền vốn cho tổ chức này (ví dụ như ngân hàng hay tín dụng tập thể) và nó sẽ chuyển tiền vốn này cho bên vay/chi tiêu.

Có thể nói trung gian tài chính là các định chế tài chính chuyên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Hoạt động chủ yếu và thường xuyên của các tổ chức này là tập trung các khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, sử dụng số vốn đó cung ứng cho những chủ thể có nhu cầu vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính - tiền tệ cho khách hàng

Trung gian tài chính bao gồm:

  • Ngân hàng
  • Công ty bảo hiểm
  • Quỹ đầu tư, bao gồm quỹ đóng và quỹ mở
  • Quỹ hưu trí
  • Hội tín dụng cá nhân hay còn gọi là hụi
  • Tư vấn tài chính và môi giới chứng khoán

 

Tài chính công

  • DỰ NGUYỄN

Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do nhà nước tiến hành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ công, nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội.

Đặc điểm của tài chính công

Gắn liền với sở hữu nhà nước, quyền lực chính trị của nhà nước
Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định đến quá trình tạo lập và sử dụng quỹ công đặc biệt là quỹ ngân sách nhà nước. Các quyết định của nhà nước được thể chế bằng luật do cơ quan quyền lực cao nhất phê chuẩn. Việc tạo lập và sử dụng quỹ công phụ thuộc vào quan điểm của nhà nước và các mục tiêu kinh tế-xã hội quốc gia đặt ra trong từng thời kì.

Chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng

Tài chính công phản ánh quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế trong việc phân phối nguồn tài chính quốc gia nên hoạt động tài chính công phản ánh các quan hệ lợi ích giữa nhà nước với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, trong đó lợi ích tổng thể được đặt lên hàng đầu và chi phối các quan hệ lợi ích khác

Hiệu quả của hoạt động thu chi tài chính công không lượng hoá được
Chủ yếu mang tính chất không hoàn lại trực tiếp nên không thể đánh giá hiệu quả một cách cụ thể, chính xác. Tuy nhiên, hiệu quả của tài chính công có thể xác định một cách tương đối thông qua các chỉ tiêu kinh tế-xã hội như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, hộ nghèo, tỷ lệ thất học...

Phạm vi hoạt động rộng

Tài chính công gắn liền với các việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,... Hoạt động thu chi tài chính công có tác động đến thu nhập của hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế kể cả chủ thể đầu tư hay tiêu dùng. Tuy nhiên, phạm vi và mức độ tác động tuỳ thuộc vào chính sách tài chính công, bối cảnh kinh tế-xã hội quốc gia trong từng thời kì và tuỳ thuộc vào từng chủ thể.