Siêu lạm phát

  • DỰ NGUYỄN
  • Tháng 10 2018

Siêu lạm phát là tình trạng lạm phát cao, có tác động phá hoại nền kinh tế nghiêm trọng. Thông thường, tốc độ tăng giá chung ở mức 3 chữ số hàng năm thì gọi là siêu lạm phát. Khi có siêu lạm phát, tiền mất giá nghiêm trọng, và lượng cầu về tiền tệ giảm đi đáng kể.

Định nghĩa

Không có định nghĩa thống nhất về siêu lạm phát. Có người cho rằng mức lạm phát trên 1.000% là siêu lạm phát, trên 100% đến dưới 1.000% là lạm phát phi mã, từ 10% đến dưới 100% là lạm phát cao.

Năm 1956, Phillip Cagan viết quyển sách Tiền tệ và cơ năng của siêu lạm phát, là nghiên cứu chính thức đầu tiên về siêu lạm phát và ảnh hưởng của nó [1](dù quyển Kinh tế học về lạm phát của C. Bresciani-Turroni đã được xuất bản năm 1931 tại Ý, nói về thời kì siêu lạm phát tại Cộng hòa Weimar những năm đầu thập niên 1920). Trong cuốn sách của mình, Cagan định nghĩa rằng siêu lạm phát xảy ra khi tỷ lệ lạm phát hàng tháng lên 50% hoặc hơn, và kết thúc khi xuống dưới 50% (với điều kiện là nó phải duy trì trong vòng ít nhất một năm).

Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế đã ban hành nguyên tắc giữ sổ sách trong một môi trường siêu lạm phát. Chúng không thiết lập một quy tắc tuyệt đối nào khi siêu lạm phát phát sinh. Thay vào đó, các yếu tố sau đây sẽ cho thấy sự tồn tại của siêu lạm phát.[2]

Dân số nói chung cảm thấy hạnh phúc với tài sản phi tiền tệ hoặc ngoại tệ. Tiền nội tệ được sử dụng ngay lập tức để duy trì sức mua, chúng không được dân chúng giữ lại.
Dân số nói chung có sự liên quan đến các khoản tiền tệ trong kỳ hạn của một ngoại tệ. Giá có thể được dẫn chứng bằng ngoại tệ đó.
Mua bán tín dụng diễn ra ở mức giá có thể bù đắp cho sự thiếu hụt sức mua trong thời hạn tín dụng, thậm chí trong thời gian ngắn.
Lãi suất, tiền lương và giá cả được liên kết với một chỉ số giá, và
Tỉ lệ lạm phát trong 3 năm tích lũy là 100% hoặc hơn.

Nguyên nhân

Hiện có nhiều giả thuyết về nguyên nhân dẫn đến siêu lạm phát.[3] Nhưng gần như tất cả các siêu lạm phát đã được gây ra bởi thâm hụt ngân sách chính phủ, nên buộc chính phủ phải in thêm rất nhiều tiền. Sau khi phân tích 29 siêu lạm phát (theo định nghĩa của Cagan) thì Bernholz đã kết luận rằng ít nhất 25 trong số đó đã xảy ra theo cách này. Bên cạnh đó, một điều kiện cần thiết cho siêu lạm phát là sự tồn tại của các loại tiền tệ không chuyển đổi cố định vào vàng và bạc. Giả thuyết này được đề xuất bởi có một thực tế là có một số trường hợp ngoại lệ về siêu lạm phát, chẳng hạn như siêu lạm phát của Pháp những năm 1789-1796, sau khi tiền "assignat", một loại tiền giấy không chuyển đổi, được giới thiệu.

Hậu quả

Siêu lạm phát làm giảm sức mua của các tổ chức tiết kiệm tư nhân và công cộng; bóp méo nền kinh tế thiên về việc tích trữ tài sản thực tế; làm cơ sở tiền tệ tháo chạy khỏi đất nước, cho dù nội tệ hay ngoại tệ có mạnh đến đâu.

Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của siêu lạm phát là sự gia tăng thay thế tiền lạm phát bằng cách ổn định làm ổn định tiền vàng và bạc trong thời gian trước đây, sau đó làm ổn định ngoại tệ một cách tương đối (sau sự sụp đổ của tiêu chuẩn vàng bạc, theo định luật Gresham). Nếu lạm phát đủ cao, các quy định của chính phủ như hình phạt nặng, tiền phạt, thường kết hợp với kiểm soát ngoại hối sẽ không thể ngăn chặn việc thay thế tiền lạm phát. Kết quả là, đồng tiền lạm phát sẽ bị định giá thấp hơn so với tiền nước ngoài ổn định, trong điều kiện sức mua tương đương. Vì vậy, người nước ngoài có thể sống và mua sản phẩm ở mức giá rẻ ở các nước bị lạm phát cao. Nó có thể dẫn đến việc chính phủ của các nước - vốn thất bại trong việc cải cách tiền tệ trong một thời gian - phải hợp pháp hóa các ngoại tệ mạnh (trước đây là vàng và bạc), và chúng có thể thay thế hoàn toàn tiền lạm phát. Nếu không hợp pháp hóa ngoại tệ mạnh, thì doanh thu thuế của chính phủ, bao gồm thuế lạm phát, sẽ tiếp cận xuống đến mức 0.[4] Quá trình này có thể thấy được ở Zimbabwe vào cuối thập niên 2000. Khi đó, đồng đôla của nước này, do bị mất giá nghiêm trọng, nên đã được thay thế bằng đồng đôla Mỹ và rand Nam Phi.

Sự kết thúc

Siêu lạm phát thường kết thúc bằng các biện pháp quyết liệt, chẳng hạn như việc áp đặt các biện pháp cắt giảm chi tiêu chính phủ hoặc làm thay đổi cơ sở tiền tệ. Một trong số các biện pháp đó là đô la hóa, tức là sử dụng đồng ngoại tệ (không nhất thiết phải thay thế bằng đô la Mỹ) như là một đơn vị quốc gia của tiền tệ. Một ví dụ là đô la hóa ở Ecuador, bắt đầu từ tháng 9 năm 2000 để đối phó cho sự mất giá nghiêm trọng của đồng sucre. (Đồng sucre khi đó đã mất giá 75% từ đầu năm 2000.) Tuy nhiên, đô la hóa vẫn thường xuyên xảy ra ở các nước, bất chấp các nỗ lực của chính phủ để ngăn chặn nó bởi kiểm soát ngoại hối, tiền phạt nặng hay hình phạt. Chính phủ đã cố gắng để thiết kế một cuộc cải cách tiền tệ nhằm làm ổn định giá trị của tiền tệ. Nếu không thành công với những cải cách này thì tiền lạm phát sẽ bị thay thế bởi ngoại tệ mạnh. Vì vậy, cũng không quá ngạc nhiên khi đã có ít nhất 7 trường hợp trong lịch sử mà trong đó, ngoại tệ mạnh ở nước ngoài đã chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng tiền lạm phát. Cuối cùng, chính phủ đã phải hợp pháp hóa các đồng tiền cũ cho trường hợp doanh thu của nó sẽ giảm xuống còn 0.[4]

Siêu lạm phát đã để lại những hậu quả đau thương cho những người bị ảnh hưởng, và các chế độ chính trị tiếp theo luôn ban hành chính sách để ngăn chặn sự tái phát của nó. Điều này có nghĩa là làm cho các ngân hàng trung ương cảm thấy tích cực về việc duy trì sự ổn định của giá cả như trường hợp của ngân hàng Bundesbank tại Đức, hoặc di chuyển đến một số cơ sở phức tạp của đồng tiền như một hội đồng tiền tệ. Nhiều chính phủ cũng đã ban hành mức lương và kiểm soát giá cả cực kỳ gay gắt trong sự trỗi dậy của siêu lạm phát, nhưng điều này vẫn không ngăn chặn lạm phát tiếp tục cung ứng tiền tệ của ngân hàng trung ương, và luôn dẫn đến thiếu hụt hàng tiêu dùng nếu các chính sách được thực thi một cách cứng nhắc.

Hậu quả đối với tiền tệ

Tại các nước từng trải qua siêu lạm phát, các ngân hàng trung ương thường in tiền có mệnh giá lớn hơn và lớn hơn thế nữa, khiến các tờ tiền mệnh giá nhỏ trở nên vô giá trị. Điều này sẽ dẫn đến sự xuất hiện của các tờ tiền có mệnh giá 1 tỷ đơn vị tiền tệ hoặc hơn.

Cuối năm 1923, Cộng hòa Weimar của Đức đã phát hành 2 nghìn tỷ tiền giấy và tem bưu chính có mệnh giá 50 tỷ mác. Tờ tiền có giá trị cao nhất do ngân hàng Reichbank của chính phủ Weimar có mệnh giá 100 nghìn tỷ mác (1014, 100.000.000.000.000 hay 100 triệu triệu).[5][6] Ở đỉnh điểm của lạm phát, 1 đôla Mỹ đổi được tới 4 nghìn tỷ mác. Một công ty in ấn đã gửi hóa đơn trị giá (và phải trả) 32.776.899.763.734.490.417,05 mác (3.28 × 1019, làm tròn thành 33 tỷ tỷ) cho Reichbank.[7]
Tờ tiền có mệnh giá cao nhất từng được lưu hành là vào năm 1946. Khi đó, Ngân hàng Quốc gia Hungary đã lưu hành tờ tiền mệnh giá 100 tỷ tỷ pengo (1020, 100.000.000.000.000.000.000, 100 triệu triệu triệu) (xem hình ảnh). (Thậm chí, còn có một tờ tiền trị giá cao hơn 10 lần, tức là 1021, 1 nghìn tỷ tỷ pengo, đã được in nhưng không được phát hành. Xem hình ảnh.) Các giấy bạc đã không cho thấy những con số đầy đủ: "trăm triệu b.- pengo" (trăm triệu nghìn tỷ pengo) và "một ngàn triệu b.- pengo" đã được phát âm vì những con số quá dài. Như vậy, tờ giấy bạc 100.000.000.000.000 đôla Zimbabwe đã trở thành tờ giấy mà có mệnh giá hiển thị nhiều số 0 nhất trên thế giới.
Sau Thế chiến II, tỉ lệ lạm phát hàng tháng ở Hungary chạm mức cao nhất trong lịch sử thế giới - 41.900.000.000.000.000% (4.19 × 1016% hoặc 41,9 triệu tỷ %) vào tháng 7 năm 1946. Với tỉ lệ này, giá cả ở Hungary sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 15,3 giờ. Nếu so sánh, tỉ lệ lạm phát hàng năm ở Zimbabwe là 89.7 nghìn tỷ tỷ % (số liệu tính đến ngày 14 tháng 11 năm 2008)[8], tức là giá cả sẽ nhân đôi sau mỗi 24,7 giờ. Khi viết ra giấy, con số này là 89.700.000.000.000.000.000.000%.
Một cách để giúp người dân khỏi bị ám ảnh bởi những con số 0 là tuyên bố một đơn vị tiền tệ mới. (Ví dụ, thay vì in tờ tiền 10 tỷ đôla, một ngân hàng trung ương sẽ cho đổi tiền theo tỉ lệ 1 tỉ đôla cũ đổi 1 đôla mới. Như vậy, các tờ tiền mới sẽ được ghi là 10 đôla mới.) Một ví dụ thực tế là ở Thổ Nhĩ Kỳ, khi nước này cho đổi tiền lira của mình theo tỉ lệ 1.000.000 lira cũ (TRL) đổi 1 lira mới (TRY) từ ngày 1 tháng 1 năm 2005. Trong khi điều này không làm giảm giá trị thực tế của tiền tệ, nó còn được định nghĩa là "định giá lại đồng tiền" và cũng thỉnh thoảng xảy ra ở các nước có lạm phát thấp hơn. Khi xảy ra siêu lạm phát, lạm phát tiền tệ quá nhanh làm chứa đựng những con số quá lớn trên các hóa đơn trước khi tiền tệ được định giá lại.

Một số tờ tiền được đóng dấu để chỉ ra những thay đổi liên quan đến mệnh giá, vì nó thường mất rất nhiều thời gian để in những tờ tiền mới. Bởi vì, trong thời gian các tờ tiền mới được in, các tờ tiền cũ sẽ trở nên lỗi thời.

Đồng tiền kim loại thường là nạn nhân của siêu lạm phát, do kinh phí để đúc tiền vượt quá giá trị lưu thông của nó. Một số lượng lớn tiền đúc đã bị nấu chảy, thường là bất hợp pháp, sau đó đi xuất khẩu cho các ngoại tệ mạnh.

Các chính phủ thường sẽ cố gắng che đậy tỉ lệ thực sự của lạm phát thông qua một loạt các kĩ thuật khác nhau. Không có hành động nào trong số đó là nhằm giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của lạm phát; và nếu bị phát hiện, nó sẽ có xu hướng làm suy yếu niềm tin của người dân vào đồng tiền, dẫn đến tăng lạm phát. Kiểm soát giá cả nói chung sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hàng hóa và nhu cầu rất cao đối với các mặt hàng bị kiểm soát, gây ra sự gián đoạn của các chuỗi cung ứng. Sản phẩm phục vụ cho người tiêu dùng có thể bị giảm hoặc biến mất khi các doanh nghiệp không còn thấy nó đạt hiệu quả kinh tế để tiếp tục sản xuất và (hoặc) phân phối hàng hóa đó theo giá hợp pháp, làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu cung.

Ngoài ra còn có vấn đề với hệ thống tiền xử lý bằng máy tính. Tại Zimbabwe, trong siêu lạm phát của đồng đô la nước này, nhiều máy rút tiền tự động và máy thanh toán thẻ phải vật lộn với các lỗi tràn số học khi khách hàng yêu cầu hàng tỷ và hàng nghìn tỷ đô la trong cùng một thời gian.[9]

Khủng hoảng tài chính

  • DỰ NGUYỄN

Khủng hoảng tài chính là sự mất khả năng thanh khoản của các tập đoàn tài chính, dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính.

Dấu hiệu của Khủng hoảng tài chính

Các Ngân hàng thương mại không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền.
Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Tự do hóa tài chính
Sự yếu kém trong hệ thống tài chính, nhất là các ngân hàng trong nước
Thể chế giám sát kém

Các loại khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng ngân hàng

Đây là tình trạng diễn ra khi các khách hàng đồng loạt rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng. Vì ngân hàng cho vay phần lớn số tiền gửi vào nên khi khách hàng đồng loạt rút tiền, sẽ rất khó để các ngân hàng có khả năng hoàn trả các khoản nợ. Sự rút tiền ồ ạt có thể dẫn tới sự phá sản của ngân hàng, khiến nhiều khách hàng mất đi khoản tiền gửi của mình, trừ phi họ được bồi thường nhờ bảo hiểm tiền gửi. Nếu việc rút tiền ồ ạt lan rộng sẽ gây ra khủng hoảng ngân hàng mang tính hệ thống. Cũng có thể hiện tượng trên không lan rộng, nhưng lãi suất tín dụng được tăng lên (để huy động vốn) do lo ngại về sự thiếu hụt trong ngân sách. Lúc này, chính các ngân hàng sẽ trở thành nhân tố gây ra khủng hoảng kinh tế

Khủng hoảng trên thị trường tài chính

Khủng hoảng trên thị trường tài chính thường xảy ra do hai nguyên nhân chính: do các chính sách của Nhà nước và do sự tồn tại của các bong bóng đầu cơ. Yếu tố đầu tiên phải nói đến, đó chính là các chính sách của Nhà nước. Khi nhà nước phát hành tiền nhằm trang trải cho các khoản thâm hụt ngân sách, điều này sẽ gây ảnh hưởng tới tỷ giá cố định. Người dân sẽ mất lòng tin vào nội tệ và chuyển sang tích trữ bằng các loại ngoại tệ. Khi đó dự trữ ngoại tệ của Nhà nước sẽ cạn dần, Nhà nước buộc phải từ bỏ tỷ giá cố định và tỷ giá sẽ tăng. Thêm vào đó, trên thị trường lại luôn tồn tại những "bong bóng" đầu cơ, ẩn chứa nguy cơ đổ vỡ. Khi hầu hết những người tham gia thị trường đều đổ xô đi mua một loại hàng hóa nào đó trên thị trường tài chính (chẳng hạn như cổ phiếu, bất động sản), nhưng không nhằm mục đích đầu tư lâu dài, mà chỉ mua với mục đích đầu cơ, với hi vọng sẽ bán ra với giá cao hơn và thu lợi nhuận, điều này đẩy giá trị của các hàng hóa này lên cao, vượt quá giá trị thực của nó. Tình trạng này xảy ra sẽ kéo theo những nguy cơ đổ vỡ trên thị trường tài chính, do các nhà đầu tư ngắn hạn kiểu trên luôn mua và bán theo xu hướng chung trên thị trường: họ mua vào khi thấy nhiều người cùng mua, tạo những cơn sốt ảo trên thị trường và bán ra khi có nhiều người cùng bán, gây tình trạng rớt giá, họ không cần hiểu biết nguyên do khi nào cần mua vào, khi nào cần bán ra nên gọi là "tâm lý bầy, đàn".

Khủng hoảng tài chính thế giới

Khi một quốc gia có đồng tiền mạnh đột ngột phá giá đồng tiền của mình hoặc khi một nước mất đi khả năng hoàn trả các khoản nợ quốc gia, gây khủng hoảng tiền tệ.

Khủng hoảng tài chính trong các tập đoàn Kinh tế
Các tập đoàn thường vướng vào khủng hoảng tài chính do 2 lý do chủ yếu: do các kế hoạch đầu tư không đúng đắn, không thu hồi được vốn đầu tư, dẫn tới việc không thanh toán được các khoản vay để đầu tư dẫn tới phá sản. Do bị hiệu ứng dây chuyền từ khủng hoảng chung, khi đó các doanh nghiệp không vay được vốn để đầu tư hoặc các dự án đầu tư không thu hồi được vốn do tình trạng khủng hoảng.

Một số hướng giải quyết

Giải tỏa được những hoảng sợ về thanh khoản, về tính lỏng bằng 2 chiến lược là cung cấp thanh khoản cho thị trường và thuyết phục các thành viên thị trường rằng họ không cần phải ngay lập tức bán đi các tài sản của mình. Để thị trường yên tâm thì cần có một cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoạt động tốt. Người đóng vai trò là cho vay cuối cùng là Ngân hàng trung ương sẽ cung cấp thanh khoản cho thị trường và để thị trường tự phân bổ, điều tiết lượng thanh khoản đó. Khi đó, cộng cụ chính sách tiền tệ gián tiếp hữu hiệu giúp NHTW cho vay là nghiệp vụ thị trường mở với các giao dịch mua bán lại tín phiếu Kho bạc do Chính phủ phát hành. Ngoài công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp là cho vay trên nghiệp vụ thị trường mở, cho vay trực tiếp với lãi suất phạt. NHTW ở tình thế rất khó khăn do phải bảo vệ tỷ giá trong khi thị trường cho rằng cuối cùng thì việc bảo vệ tỷ giá không quan trọng bằng các mục tiêu vĩ mô và đến một lúc nào đó thì đồng tiền sẽ giảm giá.
Thuế và các hạn chế khác có thể không khuyến khích các nhà đầu tư dài hạn và có khi còn làm trầm trọng thêm tình hình.Việc cần làm là giải quyết khủng hoảng thanh toán để hạn chế thiệt hại bằng cách: loại bỏ những không chắc chắn của nhà đầu tư về tính trong sạch của các thể chế cá nhân. Thêm vào đó, buộc các thể chế này phải xử lý những vấn đề về tài sản của mình như định giá thấp… và bán cho cơ quan cơ cấu lại nợ của Chính phủ. Điều này làm tăng tính lỏng và giảm bớt khó khăn cho người cho vay – ngân hàng. Tuy nhiên, để giải quyết khủng hoảng tài chính triệt để thì cần phải ngăn chặn nó bằng cơ chế giám sát, thanh tra và các công cụ, kỹ thuật thích hợp.

Bảng xếp hạng bóng chuyền thế giới 2020

  • DỰ NGUYỄN

Bóng chuyền là môn thể thao đồng đội có lẽ là độ phổ biến chỉ xếp sau môn thể thao vua “Bóng đá” trên thế giới. Không cần tốn chi phí nhiều, chỉ cần một quả bóng, bất kỳ mặt sân nào thì chúng ta có thể chơi môn thể thao này. Liên đoàn bóng chuyền quốc tế với tên viết tắt là FIVB, thường xuyên tổ chức nhiều giải đấu cấp châu lục và thế giới, Olympic, các giải bóng chuyền trẻ giúp bộ môn trở nên phổ biến và thu hút nhiều người hâm mộ hơn. 

 

Bóng chuyền là môn thể thao đồng đội có lẽ là độ phổ biến chỉ xếp sau môn thể thao vua “Bóng đá” trên thế giới. Không cần tốn chi phí nhiều, chỉ cần một quả bóng, bất kỳ mặt sân nào thì chúng ta có thể chơi môn thể thao này. Liên đoàn bóng chuyền quốc tế với tên viết tắt là FIVB, thường xuyên tổ chức nhiều giải đấu cấp châu lục và thế giới, Olympic, các giải bóng chuyền trẻ giúp bộ môn trở nên phổ biến và thu hút nhiều người hâm mộ hơn. 

Chính FIVB là tổ chức đưa ra các tiêu chí để tính điểm và xếp hạng các đội tuyển bóng trên trên khắp 5 châu. 

Tiêu chí và các giải đấu tính điểm xếp hạng bóng chuyền 

  • Vòng loại và Thế vận hội Olympic thế giới.
  • Cúp bóng chuyền thế giới. 
  • Giải vô địch thế giới.
  • World Grand Prix.

Bảng xếp hạng bóng chuyền nam thế giới năm 2020

Bảng xếp hạng bóng chuyền nam thế giới
Brazil là đội đứng vị trí số 1 trên BXH của liên đoàn bóng chuyền thế giới

Đứng vị trí đầu tiên trong danh sách xếp hạng các đội tuyển bóng chuyền nam thế giới là Brazil với số điểm là 335. Đứng thứ hai là đội tuyển bóng chuyền nam Mỹ với số điểm 280. Các vị trí lần lượt trong top 5 là Ba Lan, Ý và Nga. Iran là đội tuyển Châu Á có thành tích này với vị trí số 8 thế giới (137 điểm). Tại khu vực Đông Nam Á Thái Lan là đội có thành tích tốt nhất, đứng vị trí 39 thế giới. Đội tuyển bóng chuyền nam Việt Nam đang đứng vị trí thứ 65 thế giới. Và danh sách sau thống kê top 20 đội tuyển bóng chuyền Nam thế giới 2020.

Vị trí Quốc gia Số điểm
1 Brazil 335
2 USA 280
3 Ba Lan 272
4 Italy 206
5 Nga 204
6 Argentina 161
7 Canada 157
8 Iran 137
9 Pháp 130
10 Nhật Bản 122
11 Serbia 110
12 Ai Cập 85
13 Bỉ 80
14 Bulgaria 72
15 Hà Lan 68
15 Australia 68
17 Slovenia 62
18 Cuba 50
19 Phần Lan 47
20 Trung Quốc 44

Bảng xếp hạng bóng chuyền nữ thế giới 2020

Bảng xếp hạng bóng chuyền nữ thế giới 2020
Trung Quốc là nước đứng đầu tại Bảng xếp hạng bóng chuyền nữ thế giới 2020

Vị trí đầu tiên trong danh sách bảng xếp hạng bóng chuyền nữ thế giới 2020 là Trung Quốc với số điểm 320. Mỹ tiếp tục là đội tuyển xếp vị trí thứ 2 với số điểm là 266. 3 vị trí tiếp theo lần lượt là Serbia, Brazil và Nga. Tại khu vực Châu Á ngoài Trung Quốc thì Nhật Bản là quốc gia có thành tích tốt nhất đứng thứ 7 thế giới. Khu vực Đông Nam Á, Thái Lan vẫn là đối thủ số 1 khu vực với vị trí thứ 14 thế giới. Đội tuyển bóng chuyền nữ Việt Nam đang đứng thứ vị trí thứ 36 thế giới trong năm 2020 này. Top 20 đội tuyển bóng chuyền nữ hàng đầu thế giới gồm:

Vị trí Quốc gia Số điểm
1 Trung Quốc 320
2 Mỹ 266
3 Serbia 252
4 Brazil 220
5 Nga 208
6 Hà Lan 203
7 Nhật Bản 190
8 Italy 165
8 Hàn Quốc 138
10 Dominican. Rep. 108
11 Argentina 83
12 Thổ Nhĩ Kỳ 72
13 Puerto Rico 70
14 Thái Lan 65
15 Đức 59
16 Bulgaria 55
17 Cameroon 52
18 Canada 44
19 Bỉ 42
19 Kenya 42

Kết luận: Đây chỉ là bảng xếp hạng bóng chuyền mới nhất 1/2020, các vị trí này có thể thay đổi trong kỳ Olympic 2020 sắp tới.

 Nguồn: https://thuvienkhoahoc.net/