Bảng xếp hạng bóng chuyền thế giới 2020

  • DỰ NGUYỄN
  • Tháng 10 2018

Bóng chuyền là môn thể thao đồng đội có lẽ là độ phổ biến chỉ xếp sau môn thể thao vua “Bóng đá” trên thế giới. Không cần tốn chi phí nhiều, chỉ cần một quả bóng, bất kỳ mặt sân nào thì chúng ta có thể chơi môn thể thao này. Liên đoàn bóng chuyền quốc tế với tên viết tắt là FIVB, thường xuyên tổ chức nhiều giải đấu cấp châu lục và thế giới, Olympic, các giải bóng chuyền trẻ giúp bộ môn trở nên phổ biến và thu hút nhiều người hâm mộ hơn. 

 

Bóng chuyền là môn thể thao đồng đội có lẽ là độ phổ biến chỉ xếp sau môn thể thao vua “Bóng đá” trên thế giới. Không cần tốn chi phí nhiều, chỉ cần một quả bóng, bất kỳ mặt sân nào thì chúng ta có thể chơi môn thể thao này. Liên đoàn bóng chuyền quốc tế với tên viết tắt là FIVB, thường xuyên tổ chức nhiều giải đấu cấp châu lục và thế giới, Olympic, các giải bóng chuyền trẻ giúp bộ môn trở nên phổ biến và thu hút nhiều người hâm mộ hơn. 

Chính FIVB là tổ chức đưa ra các tiêu chí để tính điểm và xếp hạng các đội tuyển bóng trên trên khắp 5 châu. 

Tiêu chí và các giải đấu tính điểm xếp hạng bóng chuyền 

  • Vòng loại và Thế vận hội Olympic thế giới.
  • Cúp bóng chuyền thế giới. 
  • Giải vô địch thế giới.
  • World Grand Prix.

Bảng xếp hạng bóng chuyền nam thế giới năm 2020

Bảng xếp hạng bóng chuyền nam thế giới
Brazil là đội đứng vị trí số 1 trên BXH của liên đoàn bóng chuyền thế giới

Đứng vị trí đầu tiên trong danh sách xếp hạng các đội tuyển bóng chuyền nam thế giới là Brazil với số điểm là 335. Đứng thứ hai là đội tuyển bóng chuyền nam Mỹ với số điểm 280. Các vị trí lần lượt trong top 5 là Ba Lan, Ý và Nga. Iran là đội tuyển Châu Á có thành tích này với vị trí số 8 thế giới (137 điểm). Tại khu vực Đông Nam Á Thái Lan là đội có thành tích tốt nhất, đứng vị trí 39 thế giới. Đội tuyển bóng chuyền nam Việt Nam đang đứng vị trí thứ 65 thế giới. Và danh sách sau thống kê top 20 đội tuyển bóng chuyền Nam thế giới 2020.

Vị trí Quốc gia Số điểm
1 Brazil 335
2 USA 280
3 Ba Lan 272
4 Italy 206
5 Nga 204
6 Argentina 161
7 Canada 157
8 Iran 137
9 Pháp 130
10 Nhật Bản 122
11 Serbia 110
12 Ai Cập 85
13 Bỉ 80
14 Bulgaria 72
15 Hà Lan 68
15 Australia 68
17 Slovenia 62
18 Cuba 50
19 Phần Lan 47
20 Trung Quốc 44

Bảng xếp hạng bóng chuyền nữ thế giới 2020

Bảng xếp hạng bóng chuyền nữ thế giới 2020
Trung Quốc là nước đứng đầu tại Bảng xếp hạng bóng chuyền nữ thế giới 2020

Vị trí đầu tiên trong danh sách bảng xếp hạng bóng chuyền nữ thế giới 2020 là Trung Quốc với số điểm 320. Mỹ tiếp tục là đội tuyển xếp vị trí thứ 2 với số điểm là 266. 3 vị trí tiếp theo lần lượt là Serbia, Brazil và Nga. Tại khu vực Châu Á ngoài Trung Quốc thì Nhật Bản là quốc gia có thành tích tốt nhất đứng thứ 7 thế giới. Khu vực Đông Nam Á, Thái Lan vẫn là đối thủ số 1 khu vực với vị trí thứ 14 thế giới. Đội tuyển bóng chuyền nữ Việt Nam đang đứng thứ vị trí thứ 36 thế giới trong năm 2020 này. Top 20 đội tuyển bóng chuyền nữ hàng đầu thế giới gồm:

Vị trí Quốc gia Số điểm
1 Trung Quốc 320
2 Mỹ 266
3 Serbia 252
4 Brazil 220
5 Nga 208
6 Hà Lan 203
7 Nhật Bản 190
8 Italy 165
8 Hàn Quốc 138
10 Dominican. Rep. 108
11 Argentina 83
12 Thổ Nhĩ Kỳ 72
13 Puerto Rico 70
14 Thái Lan 65
15 Đức 59
16 Bulgaria 55
17 Cameroon 52
18 Canada 44
19 Bỉ 42
19 Kenya 42

Kết luận: Đây chỉ là bảng xếp hạng bóng chuyền mới nhất 1/2020, các vị trí này có thể thay đổi trong kỳ Olympic 2020 sắp tới.

 Nguồn: https://thuvienkhoahoc.net/

TIN LIÊN QUAN

Tài chính doanh nghiệp

  • DỰ NGUYỄN

Tài chính doanh nghiệp là một phân môn của ngành Tài chính, nghiên cứu về quá trình hình thành và sử dụng các của cải trong doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích chủ sở hữu.

Mục đích tối đa hóa lợi ích chủ sở hữu là cơ sở quan trọng của lý thuyết tài chính doanh nghiệp hiện đại. Tuy vậy một số học giả và nhà lãnh đạo doanh nghiệp không đồng tình với mục tiêu này. Robert Martin  cho rằng doanh nghiệp nên tập trung vào mục tiêu thỏa mãn tối đa khách hàng. Trả lời phỏng vấn trên Financial Times, CEO của Unilever Paul Polman và nguyên CEO của General Electric Jack Welch  đồng tình cho rằng họ "không làm việc vì giá trị chủ sở hữu", "giá trị chủ sở hữu là ý tưởng tồi tệ nhất trên đời". Báo The Economist giải thích rằng "vấn đề không phải ở chỗ giá trị chủ sở hữu, mà là việc sử dụng sự tăng giá ngắn hạn của cổ phiếu làm đại diện cho nó"

Thuật ngữ "Tài chính doanh nghiệp" có thể gây ra lầm tưởng đây là môn học nghiên cứu các vấn đề tài chính của mọi loại hình doanh nghiệp. Thực tế từ gốc tiếng Anh của "tài chính doanh nghiệp" là "Corporate Finance", có nghĩa là tài chính công ty trách nhiệm hữu hạn. Một số dịch giả khuyến nghị rằng nên gọi môn học này là "Tài chính công ty" để tránh gây nhầm lẫn. Mặc dù những nguyên lý cơ bản của tài chính doanh nghiệp có thể áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp, nhưng nhiều vấn đề chỉ áp dụng được cho doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn.

Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của hệ thống tài chính. Tài chính doanh nghiệp là một hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình tạo lập và phân phối nguồn tài chính và quỹ tiền tệ, quá trình tạo lập và chu chuyển nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm phục vụ mục đích sản xuất để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp đó. Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp: - Hoạt động của tài chính doanh nghiệp luôn gắn liền và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Hoạt động của tài chính doanh nghiệp bị chi phối bởi tính chất sở hữu vốn trong mỗi doanh nghiệp. - Hoạt động của tài chính doanh nghiệp luôn bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận.

Thị trường tài chính

  • DỰ NGUYỄN

Thị trường tài chính là một thị trường trong đó mọi người và các thể chế có thể trao đổi các chứng khoán tài chính, các hàng hóa, và các món giá trị có thể thay thế khác với chi phí giao dịch thấp và tại các giá cả phản ánh cung và cầu. Các chứng khoán bao gồm cổ phiếu và trái phiếu, và các hàng hóa bao gồm kim loại quý hoặc hàng hóa nông nghiệp.

Có cả các thị trường nói chung (trong đó nhiều hàng hóa được giao dịch) và các thị trường chuyên ngành (trong đó chỉ có một hàng hóa được giao dịch). Thị trường làm việc bằng cách đặt nhiều người mua và người bán quan tâm, trong đó có các hộ gia đình, các doanh nghiệp và cơ quan chính phủ, trong một "nơi", do đó làm cho họ tìm thấy nhau dễ dàng hơn. Một nền kinh tế chủ yếu dựa vào các tương tác giữa người mua và người bán để phân bổ nguồn lực được gọi là một nền kinh tế thị trường tương phản với một nền kinh tế chỉ huy hay một nền kinh tế phi thị trường chẳng hạn như một nền kinh tế quà tặng.

Trong tài chính, thị trường tài chính tạo điều kiện:

  • Việc nâng vốn (trong các thị trường vốn)
  • Việc chuyển giao rủi ro (trong các thị trường phái sinh)
  • Phát hiện giá
  • Các nghiệp vụ toàn cầu với hội nhập của các thị trường tài chính
  • Việc chuyển giao tính thanh khoản (trong các thị trường tiền tệ)
  • Thương mại quốc tế (trong các thị trường tiền tệ)


- và được sử dụng để phù hợp những người muốn có vốn với những người có vốn.

Thường một người vay phát hành một biên nhận cho người cho vay và hứa sẽ trả lại vốn. Các biên nhận này là các chứng khoán có thể được mua hoặc bán tự do. Đổi lại việc cho vay tiền cho người vay, người cho vay sẽ mong đợi một số bồi thường theo hình thức lãi vay hay cổ tức. Hoàn vốn đầu tư này là một phần cần thiết của thị trường để đảm bảo các nguồn tiền được cung cấp cho họ. Thị trường tài chính giúp vay vốn trong dân cư và ở nước ngoài dễ dàng hơn để giải quyết bội chi, không cần phát hành tiền nên lạm phát sẽ giảm.

Cơ sở khách quan cho sự ra đời

Thị trường tài chính là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, sự xuất hiện và tồn tại của thị trường này xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc giải quyết mẫu thuận giữa nhu cầu và khả năng cung ứng vốn lớn trong nền kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai trạng thái trái ngược nhau giữa một bên là nhu cầu và một bên là khả năng về vốn. Mâu thuẫn này ban đầu được giải quyết thông qua hoạt động của ngân hàng với vai trò trung gian trong quan hệ vay mượn giữa người có vốn và người cần vốn. Khi kinh tế hàng hóa phát triển cao, nhiều hình thức huy động vốn mới linh hoạt hơn nảy sinh và phát triển, góp phần tốt hơn vào việc giải quyết cân đối giữa cung và cầu về các nguồn lực tài chính trong xã hội, làm xuất hiện các công cụ huy động vốn như trái phiếu, cổ phiếu của các doanh nghiệp, trái phiếu của chính phủ... - Đó là những loại giấy tờ có giá trị, gọi chung là các loại chứng khoán. Và từ đó xuất hiện nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các chủ sở hữu khác nhau các loại chứng khoán. Điều này làm xuất hiện một loại thị trường để cân đối cung cầu về vốn trong nền kinh tế là thị trường tài chính.

Do đó, Cơ sở khách quan cho sự ra đời của thị trường tài chính là sự giải quyết mẫu thuẫn giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế thông qua các công cụ tài chính đặc biệt là các loại chứng khoán, làm nảy sinh nhu cầu mua bán, chuyển nhượng chứng khoán giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Chính sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ mà đỉnh cao của nó là kinh tế thị trường làm nảy sinh một loại thị trường mới là thị trường tài chính.

Thị trường tài chính hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiện những chủ thể cần nguồn tài chính và những người có khả năng cung ứng nguồn tài chính. Khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì các hoạt động về phát hành và mua bán lại các chứng khoán cũng phát triển, hình thành một thị trường riêng nhằm làm cho cung cầu nguồn tài chính gặp nhau dễ dàng và thuận lợi hơn, đó là thị trường tài chính.

Điều kiện cần thiết hình thành thị trường tài chính

  • Nền kinh tế hàng hóa phát triển, tiền tệ ổn định, với mức độ lạm phát có thể kiểm soát được;
  • Các công cụ của thị trường tài chính phải đa dạng tạo ra các phương tiện chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính;
  • Hình thành và phát triển hệ thống các trung gian tài chính;
  • Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức quản lý nhà nước để giám sát sự hoạt động của thị trường tài chính;
  • Phải tạo cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho hoạt động của thị trường tài chính;
  • Cần có đội ngũ các nhà kinh doanh, các nhà quản lý am hiểu thị trường tài chính và phải có đông đảo các nhà đầu tư có kiến thức, dám mạo hiểm trước những rủi ro có thể xảy ra.


Công cụ của thị trường tài chính

Để chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính, các công cụ chủ yếu được sử dụng trên thị trường tài chính là các loại chứng khoán. Chứng khoán là chứng từ dưới dạng giấy tờ hoặc ghi trên hệ thống thiết bị điện tử xác nhận các quyền hợp pháp của người sở hữu chứng từ đó đối với người phát hành; hoặc chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng từ đó đối với người phát hành.

Chứng khoán có nhiều loại khác nhau; có thể phân loại chứng khoán dựa theo các tiêu thức khác nhau:

  • Căn cứ vào kỳ hạn huy động:
    • Chứng khoán ngắn hạn, có thời hạn dưới 1 năm;
    • Chứng khoán trung và dài hạn. Trung hạn từ 1 đến 5 năm, dài hạn là trên 5 năm.
  • Căn cứ vào chủ thể phát hành:
    • Chứng khoán chính phủ trung ương và địa phương;
    • Chứng khoán của các ngân hàng và tổ chức tín dụng;
    • Chứng khoán doanh nghiệp.
  • Căn cứ vào lợi tức:
    • Chứng khoán có lợi tức ổn định;
    • Chứng khoán có lợi tức không ổn định.
  • Căn cứ vào tiêu chuẩn pháp lý:
    • Chứng khoán vô danh;
    • Chứng khoán hữu danh.
  • Căn cứ vào tính chất chứng khoán:
    • Cổ phiếu (chứng khoán vốn);
    • Trái phiếu (chứng khoán nợ);
    • Chứng khoán phái sinh.
  • Căn cứ vào tính chất của người phát hành:
    • Chứng khoán khởi thủy;
    • Chứng khoán thứ cấp.

Cấu trúc thị trường tài chính

* Căn cứ vào thời gian sử dụng nguồn tài chính huy động được

  • Thị trường tiền tệ: Là một thị trường tài chính chỉ có các công cụ ngắn hạn (kỳ hạn thanh toán dưới 1 năm);
  • Thị trường vốn: Là thị trường diễn ra việc mua bán các công cụ nợ dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu. Thị trường vốn được phân thành ba bộ phận là thị trường cổ phiếu, các khoản cho vay thế chấp và trái phiếu.

* Căn cứ theo phương thức huy động nguồn tài chính

  • Thị trường nợ: Phương pháp chung nhất mà các công ty sử dụng để vay vốn trên thị trường tài chính là đưa ra một công cụ vay nợ, ví dụ như trái khoán hay một món vay thế chấp. Công cụ vay nợ là sự thoả thuận có tính chất hợp đồng có lãi suất cố định và hoàn trả tiền vốn vào cuối kì hạn. Kì hạn dưới 1 năm là ngắn hạn, trên 1 năm là trung và dài hạn. Thị trường nợ là thị trường diễn ra việc mua bán các công cụ nợ kể trên;
  • Thị trường vốn cổ phần: Phương pháp thứ hai để thu hút vốn là các công ty phát hành cổ phiếu. Người nắm giữ cổ phiếu sở hữu một phần tài sản của công ty có quyền được chia lợi nhuận ròng từ công ty sau khi trừ chi phí, thuế và thanh toán cho chủ nợ (những người sở hữu công cụ nợ).

* Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn tài chính

  • Thị trường sơ cấp: Là thị trường tài chính trong đó diễn ra việc mua bán chứng khoán đang phát hành hay chứng khoán mới. Việc mua bán chứng khoán trên thị trường cấp một thường được tiến hành thông qua trung gian là các ngân hàng;
  • Thị trường thứ cấp: Là thị trường mua bán lại những chứng khoán đã phát hành. Khi diễn ra hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường này thì người vừa bán chứng khoán nhận được tiền bán chứng khoán còn công ty phát hành không thu được tiền nữa, một công ty thu được vốn chỉ khi chứng khoán của nó được bán lần đầu tiên trên thị trường sơ cấp.

* Căn cứ vào tính chất pháp lý

  • Thị trường tài chính chính thức: là bộ phận của thị trường tài chính, mà tại đó mọi hoạt động huy động, cung ứng, giao dịch các nguồn tài chính được thực hiện theo những nguyên tắc, thể chế do nhà nước quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Các chủ thể tham gia được pháp luật thừa nhận và bảo vệ;
  • Thị trường tài chính không chính thức: là thị trường tài chính, mà ở đó mọi hoạt động huy động, cung ứng, giao dịch các nguồn tài chính và người cần nguồn tài chính không theo những nguyên tắc, thể chế do nhà nước quy định.

Chức năng, Vai trò của thị trường tài chính

* Chức năng của thị trường tài chính

1. Chức năng dẫn nguồn tài chính từ những chủ thể có khả năng cung ứng nguồn tài chính đến những chủ thể cần nguồn tài chính:

  • Thị trường tài chính đóng vai trò là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người kinh doanh. Giúp cho việc chuyển vốn từ người không có cơ hội đầu tư sinh lợi đến những người có cơ hội đầu tư sinh lợi.
  • Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, sản xuất kinh doanh.
  • Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, không chỉ đối với người có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền để đầu tư. Người cho vay sẽ có lãi thông qua lãi suất cho vay. Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu quả nhất do họ phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người cho vay đồng thời phải tạo thu nhập và tích lũy cho chính bản thân mình.
  • Thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ thông qua các hình thức như phát hành trái phiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh trong nước.
  • Thị trường tài chính cho phép sử dụng các chứng từ có giá, bán cổ phiếu, trái phiếu, đổi tiền.

2. Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán;

3. Chức năng cung cấp thông tin kinh tế và đánh giá giá trị của doanh nghiệp.

* Vai trò của thị trường tài chính

  • Thị trường tài chính thu hút, huy động các nguồn tài chính trong và ngoài nước, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư;
  • Thị trường tài chính góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính;
  • Thị trường tài chính thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của nhà nước.