Trung tâm thương mại The Landmark 81

  • DỰ NGUYỄN
  • Tháng 10 2018

The Landmark 81 là một tòa nhà chọc trời trong tổ hợp dự án Vinhomes Tân Cảng, một dự án có tổng mức đầu tư 40.000 tỷ đồng, do Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Tân Liên Phát thuộc Vingroup làm chủ đầu tư. Tòa tháp cao 81 tầng, lúc hoàn thành là tòa nhà cao nhất Việt Nam[2] và là tòa nhà cao nhất Đông nam Á từ tháng 3 năm 2018. Dự án được xây dựng ở Tân Cảng, quận Bình Thạnh, ven sông Sài Gòn. Dự án được khởi công ngày 26/07/2014. Hiện dự án đang thi công những hạng mục cuối cùng để hoàn thành vào đầu năm 2020.

Khánh thành

Sau hơn 1.000 ngày thi công, vào ngày 26/07/2018, Landmark 81 chính thức được khánh thành và hoạt động hạng mục đầu tiên (TTTM Vincom Center).
Đến đầu năm 2019, Landmark 81 sẽ vận hành thử những hạng mục cuối cùng.
Dự kiến đến năm 2020, Landmark 81 sẽ vận hành chính thức tất cả các hạng mục.

Mô tả

Tòa nhà The Landmark 81 có độ cao 461,3m, có 81 tầng được xây dựng tại vị trí trung tâm của khu đô thị Vinhomes Central Park, ngay bên bờ sông Sài Gòn. Tòa nhà Landmark 81 có tổng diện tích sàn xây dựng 241.000 m2 trong đó:

Tầng B1, 1, 2, 3: Trung tâm thương mại, rạp chiếu phim, sân trượt băng trong nhà, gym...

Tầng 4: Khu club house dành cho cư dân gồm hệ thống hồ bơi, gym, spa, bar và lounge ngoài trời.

Tầng 5: Sảnh lounge tiêu chuẩn 5 sao và nhà sinh hoạt cộng đồng dành cho cư dân, nhà hàng cao cấp.

Tầng 6 đến 40: Khu căn hộ hiện đại với căn hộ 1 - 4 phòng ngủ, sky villa. Hệ thống có khoảng 900 căn hộ dịch vụ cao cấp Vinhomes và căn hộ thương mại Officetel cao cấp, trong đó có căn hộ dịch vụ tiêu chuẩn 5 sao và căn hộ dịch vụ siêu sang 6 sao diện tích 400m2 với góc nhìn 180 độ.

Tầng 42 đến 76: Khách sạn Vinpearl 5 sao. Khu khách sạn 5 sao Vinpearl có quy mô khoảng 450 phòng; phòng tổng thống sang trọng có diện tích lên đến 1.000 m2 với tầm quan sát 360 độ quanh thành phố. Nhà hàng và sky bar ở tầng 66 và 67 có góc nhìn rộng 360 độ.

Tầng 79 đến 81: Đài quan sát.

Tầng B2, B3: Hầm để xe.

Dưới chân tòa nhà là Trung tâm thương mại Vincom Center có diện tích 59.000 m2.

Cuối tháng 8, Tổng thầu Coteccons vừa công bố hoàn thành thi công lắp đặt Angten trên đỉnh spire của Landmark 81. Angten này có chiều cao 8,3m là thiết bị thu phát sóng truyền hình cho TP.HCM, góp phần tăng chiều cao tổng tòa nhà lên gần 470m

TIN LIÊN QUAN

Khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam

  • DỰ NGUYỄN

Khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam là một không gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu quốc tế hay cửa khẩu chính của quốc gia, có dân cư sinh sống và được áp dụng những cơ chế, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất dựa trên việc quy hoạch, khai thác, sử dụng, phát triển bền vững các nguồn lực, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập.

Một phần lớn các khu kinh tế cửa khẩu được địa phương đề xuất với tưởng tượng thái quá, không tính đúng tính đủ hai bên biên giới có cái gì, dẫn đến khi triển khai thì không có tính thực tế. Các khu kinh tế đặt ở vùng mà hai bên biên giới là vùng chưa phát triển thì sau hàng chục năm vẫn còn là "tiềm năng" trên giấy để định hướng cho tầm nhìn đến mai sau

Chính sách phát triển các khu kinh tế cửa khẩu


Ngay từ năm 1996, Chính phủ Việt Nam bắt đầu tiến hành thí điểm xây dựng khu kinh tế Móng Cái thông qua việc phê duyệt một số cơ chế ưu đãi cho khu kinh tế này. Trên cơ sở Móng Cái, năm 1998, Chính phủ tiến hành thí điểm ở quy mô rộng rãi hơn với việc phê duyệt chính sách ưu đãi cho Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài[4] và Khu thương mại Lao Bảo. Đây là lần đầu tiên, tên gọi Khu kinh tế cửa khẩu được sử dụng một cách chính thức. Tuy nhiên, khái niệm về khu kinh tế cửa khẩu vẫn chưa được xác định.

Năm 2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định về chính sách đối với Khu kinh tế cửa khẩu biên giới.[5] và Bộ Tài chính ra Thông tư hướng dẫn thi hành chính sách tài chính áp dụng cho các khu kinh tế cửa khẩu biên giới[6]. Cuối tháng 12 năm 2002, Chính phủ tổ chức hội nghị sơ kết tình hình thực hiện chính sách khu kinh tế cửa khẩu biên giới. Sau hội nghị, Chính phủ đã khẳng định: "Về kinh tế đã có bước phát triển làm sống động cuộc sống tại các Khu vực cửa khẩu: góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh, có cửa khẩu của khu vực và cả nước; thúc đẩy một số ngành sản xuất phát triển đồng thời góp phần tăng thu ngân sách; tạo kết cấu hạ tầng cho Khu kinh tế cửa khẩu và các vùng liên quan. Về xã hội đã tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động; từng bước nâng cao đời sống dân cư khu vực và tạo ra diện mạo mới cho vùng biên cương trước đây là vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn trở thành vùng sôi động; thúc đẩy quá trình "đô thị hoá" ở đó." [7]

Tháng 10 năm 2005, Chính phủ chính thức cho phép thành lập khu bảo thuế trong khu kinh tế cửa khẩu, cam kết sẽ hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách địa phương trong công tác phát triển cơ sở hạ tầng của khu kinh tế cửa khẩu.[8]

Đầu năm 2008, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt "Quy hoạch phát triển các Khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam đến năm 2020". Theo đó, đến năm 2020, Việt Nam sẽ có 30 khu kinh tế cửa khẩu. Các khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, Lào Cai, Đồng Đăng-Lạng Sơn, Lao Bảo, Cầu Treo, Bờ Y, Mộc Bài, An Giang và Đồng Tháp sẽ được quan tâm xây dựng đồng bộ về kết cấu hạ tầng, mô hình tổ chức quản lý, cơ chế, chính sách

Những đặc trưng cơ bản của khu kinh tế cửa khẩu

Về đại thể, khu kinh tế của khẩu có một số đặc trưng phổ quát sau đây:

Các khu kinh tế cửa khẩu cách xa trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của đất nước.
Dân cư tại các khu kinh tế cửa khẩu với dân cư địa phương lân cận của các nước láng giềng có sự tương đồng nhau về văn hoá, truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo,...
Có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế - xã hội - môi trường và chất lượng cuộc sống.
Hợp tác và cạnh tranh là đặc trưng chủ yếu.
Hợp tác và giao lưu kinh tế dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của nhau, bình đẳng các bên cùng có lợi.

Diễn đàn Khu vực ASEAN

  • DỰ NGUYỄN

Diễn đàn khu vực ASEAN (tiếng Anh: ASEAN Regional Forum; viết tắt: ARF) được thành lập năm 1994 nhằm thúc đẩy cơ chế đối thoại và tham vấn về các vấn đề an ninh và chính trị trong khu vực, xây dựng lòng tin và phát triển ngoại giao phòng ngừa. Khẩu hiệu của ARF là "Xúc tiến hòa bình và an ninh qua đối thoại và hợp tác ở châu Á Thái Binh Dương".

Thành viên

ARF bao gồm 27 quốc gia có cùng mối quan tâm đến an ninh khu vực châu Á Thái Bình Dương. Đó là 10 quốc gia thành viên của ASEAN; 10 nước đối tác đối thoại của ASEAN (bao gồm Úc, Canada, Trung Quốc, EU, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Hoa Kỳ), một quan sát viên của ASEAN (Papua New Guinea), cùng với Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Mông Cổ và Pakistan. Đông Timo được kết nạp vào ARF vào năm 2005.

Lịch sử

Tại hội nghị các vị bộ trưởng ASEAN lần thứ 26 tại Singapore ngày 23 đến 25 tháng 7 năm 1993, các nước đã thống nhất thiết lập ARF. Buổi khai mạc ARF được tổ chức ở Bangkok vào 25 tháng 7 năm 1994.

Sự cần thiết của ARF

Trong một khu vực vốn ít có lịch sử hợp tác an ninh, Diễn đàn khu vực ASEAN là một diễn đàn quan trọng nhất về hợp tác an ninh ở châu Á. Diễn đàn này đã bổ sung vào các cơ chế liên minh song phương và đối thoại khác nhau hiện có ở châu Á, củng cố thêm viễn cảnh hợp tác an ninh ở khu vực này. Diễn đàn ARF được xây dựng từ ý tưởng – rút ra từ chính kinh nghiệm của ASEAN - rằng một tiến trình đối thoại có thể tạo ra những biến chuyển tích cực trong quan hệ chính trị giữa các nước. Nó tạo ra một cơ chế hoạt động giúp các thành viên có thể thảo luận về các vấn đề an ninh hiện có trong khu vực và tăng cường các biện pháp hợp tác nhằm thúc đẩy hoà bình và an ninh trong khu vực.

Mục tiêu của ARF

Các mục tiêu của Diễn đàn khu vực ASEAN được quy định rõ trong tuyên bố của các nhà lãnh đạo ARF đầu tiên (1994), đó là:

Tăng cường đối thoại hợp tác và hội đàm các vấn đề chính trị và an ninh của các nước có chung lợi ích và mối quan tâm; và
Đóng góp đáng kể vào những nỗ lực nhằm xây dựng một khu vực đáng tin cậy và dân chủ ở châu Á – Thái Bình Dương.
Cuộc họp Bộ trưởng lần thứ 27 cũng đã khẳng định "ARF sẽ trở thành một diễn đàn tư vấn có hiệu quả ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhằm thúc đẩy đối thoại cởi mở về hợp tác an ninh và chính trị ở khu vực. Trong bối cảnh đó, ASEAN nên làm việc với các đối tác của ARF để xác lập các mối quan hệ có tính xây dựng và dự đoán được ở châu Á Thái Bình Dương".

Cơ cấu

Các thành viên trong ARF có vị trí ngang hàng. Người điều hành ARF là một chủ tịch do Ủy ban ASEAN chỉ định. Chủ tịch ARF trong thời gian tháng 6 năm 2005 đến tháng 7 năm 2006 là ông Hamid Albar bộ trưởng bộ ngoại giao của Malaysia. Chủ tịch văn phòng cấp cao hội nghị ARF là ông Datuk Rastam Mohd Isa hiện là tổng thư ký của bộ ngoại giao Malaysia.

Thành tựu của ARF

Trong lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Diễn đàn khu vực ASEAN, bộ trưởng các nước ARF đã họp nhau tại Phnom Penh vào ngày 18 tháng 6 năm 2003 và tuyên bố rằng "bất chấp những khác biệt lớn giữa các thành viên, diễn đàn này đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần duy trì hoà bình, an ninh và hợp tác trong khu vực". Cụ thể là:

Tính hiệu quả của ARF với tư cách là một cầu nối cho các cuộc đối thoại và tư vấn song phương cũng như đa phương cùng với việc thiết lập những quy tắc đối thoại và hợp tác, ra quyết định dựa trên sự đồng thuận, không can thiệp lẫn nhau, sự tiến bộ không ngừng và phát triển với tốc độ cân đối, hợp lý cho mọi thành

Sự sẵn sàng giữa các bên tham dự ARF nhằm thảo luận hàng loạt các vấn đề an ninh trong một cơ chế đa phương;
Sự tin tưởng lẫn nhau được xây dựng dần qua các hoạt động hợp tác;
Tạo lập và duy trì đối thoại và tư vấn về các vấn đề an ninh và chính trị;
Minh bạch được thực hiện thông qua những biện pháp của ARF như trao đổi thông tin liên quan đến chính sách quốc phòng và việc xuất bản các báo cáo của chính phủ về quốc phòng; và Một mạng lưới được triển khai giữa các quan chức quân đội, quốc phòng và an ninh quốc gia của các bên tham gia ARF.

Quá trình phát triển và tương lai của ARF

ARF được định hình thông qua việc ra quyết định dựa trên nguyên tắc đồng thuận và giảm thiểu quá trình thể chế hoá. Năm 1995, ARF đã vạch ra 3 giai đoạn phát triển trong tiến trình xây dựng ARF. Theo đó, ARF sẽ chuyển dần từ việc xây dựng lòng tin đến thiết lập một cơ chế ngoại giao ngăn ngừa, và trong dài hạn hướng đến khả năng giải quyết các xung đột.

Trong mười năm đầu hoạt động của mình, ARF dường như không đạt được kết quả gì đáng kể trong việc xây dựng một cộng đồng chiến lược. Gần đây hơn, diễn đàn này đã có những đóng góp nhất định vào chương trình chống khủng bố ở khu vực. Tuy nhiên, những nỗ lực nhằm triển khai những biện pháp xây dựng cơ chế ngoại giao ngăn ngừa cũng như điều hoà các xung đột vẫn còn ở giai đoạn trứng nước. Trong khi ARF tiếp tục tập trung vào các biện pháp xây dựng lòng tin của diễn đàn này thì các thành viên của nó cũng đã nhất trí với nhau rằng cơ chế ngoại giao ngăn ngừa cũng nên được xúc tiến theo. Đặc biệt là trong những lĩnh vực còn chồng chéo, đan xen giữa hai giai đoạn này.

Các thành viên cũng đã thỏa thuận với nhau về các biện pháp để thực thi cơ chế ngoại giao ngăn ngừa. Trong đó đáng chú ý là tăng cường vai trò của Chủ tịch ARF trong việc phối hợp các vị trí của ARF nhằm phát huy hơn nữa khả năng của diễn đàn này trong việc ứng phó với các tình huống ảnh hưởng đến nền an ninh của các thành viên ARF giữa các cuộc họp bộ trưởng.

Các cuộc họp và các tiến trình của ARF

Bộ ngoại giao và thương mại chịu trách nhiệm về các chính sách của ARF, cộng với sự tham vấn của Bộ quốc phòng. Các cuộc họp của ARF được tổ chức hàng năm ở cấp Bộ trưởng ngoại giao. Chủ tịch của ASEAN, được luân phiên hàng năm, cũng là chủ tịch của ARF. Văn bản chính thức chủ yếu của ARF là tuyên bố của chủ tịch ARF được phát hành ngay sau khi mỗi cuộc họp bộ trưởng diễn ra.

Diễn đàn ARF còn được hỗ trợ bằng các cuộc họp quan chức cấp cao ARF (ARF SOM), được tổ chức hàng năm vào tháng 5 hoặc tháng 6. Hai cuộc họp khác của Nhóm hỗ trợ liên ngành khác của ARF về các Biện pháp xây dựng lòng tin (ISG on CBMs) cũng được tổ chức hàng năm ở cấp quan chức, được điều hành bởi một nước thành viên ASEAN và một nước không phải là thành viên của ASEAN.

Các khuyến nghị và kết quả của những cuộc họp ISG này sẽ được đưa ra xem xét tại ARF SOM. Các cuộc họp ISG còn tạo ra cơ hội để lên kế hoạch và rà soát các hoạt động xây dựng lòng tin cũng như các cuộc hội thảo do từng thành viên ARF tổ chức hàng năm. Các thể chế cấp tiếp theo (không chính thức) như Hội đồng hợp tác anh ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương (CSCAP) và Viện nghiên cứu quốc tế và chiến lược ASEAN (ASEAN ISIS) có tác dụng tạo ra các ý tưởng và các "đầu vào" để ARF cân nhắc.